Hành vi cưỡng bức lao động bị xử phạt như thế nào?

    Hành vi cưỡng bức lao động bị xử phạt như thế nào?

    Để hiểu rõ hơn về hành vi cưỡng bức lao động, qua nghiên cứu các quy định tại Công ước số 29 của ILO – Công ước về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (1930) đã cho thấy Công ước quốc tế điều chỉnh và thể hiện vấn đề này thông qua cụm từ “lao động cưỡng bức”. Tại văn kiện pháp lý trên, một hoạt động được coi là “lao động cưỡng bức” khi thỏa mãn các yếu tố dưới đây:

    Thứ nhất, một người thực hiện một công việc hoặc cung cấp dịch vụ cho người khác;

    Thứ hai, người này không tự nguyện mà bị ép buộc, bắt buộc phải thực hiện công việc, cung cấp dịch vụ đó. Tính chất không tự nguyện này có thể thể hiện ở việc họ bị bắt cóc, bị giam cầm, bị buôn bán, bị lừa dối về điều kiện làm việc...

    Thứ ba, người này bị đe dọa phải gánh chịu một hình phạt, trừng phạt nào đó (về thể chất/tinh thần hoặc cả hai) nếu không thực hiện công việc, cung cấp dịch vụ bị ép buộc phải làm đó.

    Lưu ý, cụm từ “lao động cưỡng bức” này không bao gồm những nghĩa vụ hợp pháp của Nhà nước như: nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ phải thi hành theo phán quyết của Tòa án v.v.

    Bộ luật Lao động năm 2019 liên quan đến vấn đề này, tại khoản 7 Điều 3 có định nghĩa “Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ”. Theo đó, cụm từ “cưỡng bức lao động” được sử dụng mang khuynh hướng thiên về việc xác định hành vi vi phạm, hành vi phạm tội cưỡng bức lao động.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 5, khoản 1, khoản 6 Điều 8 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền không bị cưỡng bức lao động tại nơi làm việc; hành vi cưỡng bức lao động, lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích cưỡng bức lao động đều là những hành vi vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động.

    Theo đó, hành vi cưỡng bức lao động tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc thậm chí là xử lý hình sự, cụ thể:

    -  Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 8 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

    - Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi cưỡng bức lao động hoặc ngược đãi người lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

    - Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, hoặc dùng vũ lực đối với người lao động là người giúp việc gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 4 Điều 30 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

    - Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khi có hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 9 Điều 42 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

    - Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài khi có hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 8 Điều 43 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

    - Phạt tiền từ 75.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài khi có hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 7 Điều 44 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

    - Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với doanh nghiệp Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài khi có hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 6 Điều 45 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

    Về trách nhiệm hình sự, Tội cưỡng bức lao động được quy định cụ thể tại Điều 297 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

    “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

    c) Làm chết người;

    d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    e) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

    a) Làm chết 02 người trở lên;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

    4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

    Trên đây là phần giải đáp của Văn phòng Luật sư Nhật Bình, nếu có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ chúng tôi.

    Download file

    GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT

    ĐĂNG KÝ NHẬN TIN