LẮP ĐẶT VÀ SỬ DỤNG CAMERA TẠI NƠI CÔNG CỘNG: RANH GIỚI GIỮA AN NINH, AN TOÀN VÀ QUYỀN RIÊNG TƯ
Camera giám sát đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hiện nay. Từ đường phố, khu dân cư, chung cư, trường học đến trung tâm thương mại, bãi giữ xe…, việc lắp đặt camera ngày càng phổ biến nhằm bảo đảm an ninh, bảo vệ tài sản và hỗ trợ phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, cùng với những lợi ích về an ninh, camera cũng đặt ra một vấn đề pháp lý đáng lưu ý: hình ảnh, âm thanh thu được từ camera có thể chứa dữ liệu giúp nhận diện một cá nhân và do đó có thể thuộc phạm vi bảo vệ của pháp luật về dữ liệu cá nhân và quyền đối với hình ảnh.
Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về việc lắp đặt, ghi hình và sử dụng dữ liệu thu được từ camera tại nơi công cộng?
1. Hình ảnh từ camera có phải là dữ liệu cá nhân?
Theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và hiện là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để đánh giá hoạt động thu thập, lưu trữ và sử dụng dữ liệu từ camera.
Khoản 6 Điều 3 Nghị định 356/2025/NĐ-CP xác định “hình ảnh của cá nhân” thuộc danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản. Như vậy, khi hình ảnh do camera ghi nhận có thể xác định hoặc giúp xác định một cá nhân, hình ảnh đó không chỉ đơn thuần là một hình ảnh thông thường mà có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
2. Có được ghi hình tại nơi công cộng mà không cần sự đồng ý của từng người?
Theo Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định về việc bảo vệ dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng. Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân được ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động này mà không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu trong những trường hợp luật định, trong đó có trường hợp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Quy định này cho thấy pháp luật không đặt ra nguyên tắc tuyệt đối rằng: “Hễ camera ghi được hình ảnh của một người thì bắt buộc phải xin phép người đó trước”. Tuy nhiên, việc không cần sự đồng ý trong một số trường hợp không đồng nghĩa với việc chủ thể ghi hình có quyền sử dụng dữ liệu một cách không giới hạn. Đây chính là ranh giới quan trọng cần lưu ý.
3. Được phép ghi hình không đồng nghĩa với việc được sử dụng dữ liệu tùy ý
Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 đặt ra nhiều giới hạn đối với việc xử lý dữ liệu thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình nơi công cộng.
Cụ thể, trong trường hợp thuộc diện được ghi âm, ghi hình mà không cần sự đồng ý, chủ thể thực hiện vẫn có trách nhiệm thông báo hoặc bằng hình thức thông tin khác để chủ thể dữ liệu biết mình đang bị ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đồng thời:
- Dữ liệu thu được chỉ được xử lý, sử dụng phù hợp với mục đích xử lý, không được sử dụng dữ liệu vào mục đích trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu;
- Chỉ được lưu trữ trong khoảng thời gian cần thiết để phục vụ mục đích thu thập, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi hết thời hạn phải xóa, hủy theo quy định của Luật;
- Chủ thể thực hiện ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu theo quy định pháp luật.
Chính mục đích và cách thức xử lý dữ liệu sau khi ghi hình mới là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính hợp pháp của hành vi.
4. Tự ý sử dụng hoặc chia sẻ dữ liệu camera có thể bị xử lý như thế nào?
Từ ngày 19/08/2026, Nghị định 330/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đáng chú ý, theo Khoản 2 Điều 39 của Nghị định này, hành vi sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác để thực hiện các hành vi trái quy định của pháp luật có thể bị phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng.
Tùy tính chất, mức độ và hậu quả của vụ việc, việc sử dụng hình ảnh của người khác còn có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự, chẳng hạn yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, cải chính, xin lỗi hoặc bồi thường thiệt hại khi có đủ căn cứ pháp luật.
Do đó, việc “lấy hình ảnh từ camera rồi đăng lên mạng cho mọi người cùng xem” không nên được xem là một hành vi đơn thuần về kỹ thuật hay quản lý nội bộ.
5. Lắp camera nơi công cộng có phải “muốn lắp là lắp”?
Pháp luật không cấm tuyệt đối việc ghi hình tại nơi công cộng. Tuy nhiên, quyền ghi hình phải được thực hiện trong phạm vi và mục đích phù hợp với quy định pháp luật. Cần phân biệt rõ quyền ghi nhận hình ảnh với quyền xử lý dữ liệu từ hình ảnh đó.
Một hệ thống camera có thể được lắp đặt nhằm mục đích bảo đảm an ninh, phòng ngừa mất mát hoặc bảo vệ tài sản. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chủ thể quản lý camera được phép sử dụng dữ liệu thu được cho bất kỳ mục đích nào, lưu trữ vô thời hạn hoặc tùy ý cung cấp, chia sẻ, công khai cho người khác. Nói cách khác, “được ghi hình” không đồng nghĩa với “được toàn quyền sử dụng hình ảnh”.
Vì vậy, việc đánh giá tính hợp pháp của hoạt động lắp đặt và sử dụng camera tại nơi công cộng phải được thực hiện trên cơ sở từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào chủ thể thực hiện, địa điểm, mục đích, loại dữ liệu được thu thập, phạm vi và thời gian lưu trữ, phương thức sử dụng hoặc cung cấp dữ liệu, cùng các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Nhat Binh Law, hy vọng đã giải đáp được vướng mắc của Quý khách hàng liên quan đến quy định pháp luật. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin bên dưới để được giải đáp. Trân trọng./.
CÔNG TY LUẬT TNHH NHẬT BÌNH – NHAT BINH LAW (NBL)
Địa chỉ : 125K Đường số 14, phường Bình Hưng Hòa, TP.HCM
Điện thoại : (84) – 28.6658.8181
Di động : 0907.299.951 (Mr. Ls Huỳnh Trung Hiếu)
Email : nhatbinhlaw@gmail.com
Website : https://luatsunhatbinh.com
