Bỏ rơi trẻ em có vi phạm pháp luật không? Hành vi này bị xử lý như thế nào?

    Bỏ rơi trẻ em có vi phạm pháp luật không? Hành vi này bị xử lý như thế nào?

    Căn cứ khoản 5 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018 thì hành vi bỏ rơi trẻ em là một trong các hình thức xâm hại trẻ em. Việc bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em và đây được xác định là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm (khoản 9 Điều 4, Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018).

    Căn cứ Nghị định số 130/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em về các trường hợp liên quan đến bỏ rơi trẻ em:

    - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có hành vi cố ý bỏ rơi trẻ em (khoản 2 Điều 21 Nghị định này).

    - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

    a) Không thực hiện đầy đủ, kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt;

    b) Từ chối, không thực hiện việc hỗ trợ, can thiệp, chăm sóc thay thế đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

    (khoản 3 Điều 28 Nghị định này).

    - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để thực hiện hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác (điểm a khoản 1 Điều 32 Nghị định này).

    Đặc biệt, hành vi bỏ rơi trẻ em có thể phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể:

    - Người mẹ (có năng lực trách nhiệm hình sự) thực hiện hành vi vứt con do mình đẻ ra (bỏ rơi, để tại một địa điểm nào đó);

    - Đứa con bị bỏ rơi mới trong ngày 07 ngày tuổi;

    - Việc người mẹ bỏ rơi con mình là do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt;

    - Hành vi bỏ rơi con của người mẹ đã dẫn đến hậu quả đứa con chết.

    Như vậy, ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính, hành vi bỏ rơi trẻ em trong trường hợp vừa nêu còn có thể phải gánh chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

    Lưu ý, khi phát hiện các trường hợp trẻ bị bỏ rơi thì cần nhanh chóng tiến hành chăm sóc y tế cho trẻ em, đồng thời liên hệ Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em (111) và thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em đến cơ quan chức năng có thẩm quyền nhằm loại bỏ, giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bỏ rơi và can thiệp để giúp trẻ sớm được đoàn tụ với gia đình và hòa nhập với cộng đồng, trường học.

    Download file

    GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT

    ĐĂNG KÝ NHẬN TIN