Câu hỏi: Luật sư cho tôi hỏi, tôi và chồng chuẩn bị kết hôn muốn thoả thuận về tài sản có bắt buộc phải lập thành văn bản không? Văn bản đó có cần phải được công chứng không?
Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về cho văn phòng chúng tôi, với câu hỏi của chị Văn phòng Luật sư Nhật Bình xin được giải đáp như sau:
Đối với trường hợp của chị, việc thoả thuận trước về tài sản vợ chồng trước khi kết hôn pháp luật gọi là xác lập chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận. Có rất nhiều cách gọi khác nhau về thoả thuận của vợ chồng liên quan đến tài sản như: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thoả thuận tài sản của vợ chồng,...
Thứ nhất, về chế độ tài sản của vợ chồng
Căn cứ khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật HN&GĐ năm 2014), vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Thứ hai, đối với trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận
Việc lựa chọn chế độ tài sản này, vợ chồng cần lưu ý các vấn đề sau đây để đảm bảo sự thoả thuận của vợ chồng có giá trị pháp lý:
Một là, thời điểm xác lập thoả thuận
Theo quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014, nếu hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thì thoả thuận này phải được lập trước khi kết hôn.
Trước khi kết hôn là thời điểm trước khi tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, không phải trước khi hai bên tổ chức lễ cưới. Một trong những điều kiện để được công nhận hôn nhân hợp pháp là phải thực hiện đăng ký kết hôn. Còn tổ chức lễ cưới chỉ là một hình thức mang nét văn hoá và là phong tục, tập quán được lưu truyền trong đời sống xã hội, đây cũng là một buổi tiệc ăn mừng, chúc phúc cho cặp đôi.
Hai là, hình thức của thoả thuận
Tại Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng có quy định về hình thức của thoả thuận là phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Ba là, thời điểm thoả thuận phát sinh hiệu lực
Cũng căn cứ tại Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014, thoả thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà các bên đã xác lập sẽ phát sinh hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Thứ ba, về nội dung của thoả thuận
Các nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản cần có để đảm bảo tính hiệu lực và phù hợp với quy định của pháp luật cũng như đáp ứng được đầy đủ nội dung cần thiết theo nguyện vọng của vợ chồng bao gồm:
a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là điều căn bản nhất cần có trong văn bản thoả thuận về tài sản vợ chồng, giúp tách bạch tài sản vợ, chồng và xác định được cách phân chia đối với tài sản chung, từ đó giúp tránh được tranh chấp về tài sản có thể phát sinh về sau.
b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
d) Pháp luật cũng quy định vợ chồng có thể thỏa thuận những nội dung khác có liên quan trong văn bản thỏa thuận.
Các bên có thể sửa đổi, bổ sung nội dung văn bản thoả thuận kể cả sau khi thoả thuận ban đầu xác lập đã được công chứng hoặc chứng thực. Các bên có thể sửa đổi một phần hoặc toàn bộ, hoặc lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định. Với hình thức và nội dung của thỏa thuận chế độ tài sản được thực hiện tương tự như thỏa thuận trước đây.
Cũng cần lưu ý rằng, khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật HN&GĐ năm 2014 và các quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.
Thứ tư, trường hợp thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan;
b) Vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật HN&GĐ năm 2014;
c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.
Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 thì: “Nội dung của thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật HN&GĐ năm 2014 là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật HN&GĐ năm 2014 hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật HN&GĐ và pháp luật khác có liên quan quy định”.
Như vậy, thoả thuận chế độ tài sản vợ chồng cần được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực. Bên cạnh đó, các bên lập văn bản thoả thuận cần chú ý về nội dung thoả thuận và tránh các trường hợp dẫn tới thoả thuận bị vô hiệu.
Trên đây là phần giải đáp của Văn phòng Luật sư Nhật Bình, nếu có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ chúng tôi.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ NHẬT BÌNH
Nhat Binh Law - NBL
Add : 125K đường số 14, P. Bình Hưng Hòa A, Q. Bình Tân, TP.HCM
Tel : +84-28-6658.8181, Hotline: 0907 299 951 (Mr. Ls Huỳnh Trung Hiếu)
Email: nhatbinhlaw@luatsurienghcm.com
Website: luatsurienghcm.com, luatsunhatbinh.com
